Quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của Hội Phụ nữ

Thứ ba - 11/08/2026 11:00
Quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của Hội Phụ nữ

1. Căn cứ pháp lý về điều kiện kết hôn hợp pháp

Điều kiện để nam, nữ xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh chặt chẽ bởi Luật Hôn nhân và Gia đình. Việc tuân thủ đầy đủ các điều kiện này là cơ sở bắt buộc để bảo đảm tính hiệu lực của việc đăng ký kết hôn.

  • Độ tuổi kết hôn: Nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Việc đăng ký kết hôn khi một hoặc cả hai bên chưa đủ độ tuổi này cấu thành hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân (kết hôn khi chưa đủ tuổi).

  • Sự tự nguyện: Việc kết hôn phải do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bị ép buộc, lừa dối hay cản trở.

  • Năng lực hành vi dân sự: Các bên không bị mất năng lực hành vi dân sự.

  • Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn: Không rơi vào các trường hợp như kết hôn giả tạo, tả hôn, cưỡng ép kết hôn, hoặc kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ/trong phạm vi ba đời.

Trường hợp việc đăng ký kết hôn đã hoàn tất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng không đáp ứng các điều kiện trên thì việc kết hôn đó bị coi là kết hôn trái pháp luật.

2. Thẩm quyền đề nghị Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật

Để bảo vệ chế độ hôn nhân tiến bộ và quyền lợi của các chủ thể yếu thế, pháp luật quy định nhóm cơ quan, tổ chức và cá nhân được quyền chủ động yêu cầu cơ quan tư pháp can thiệp xử lý các vi phạm.

Các cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu trực tiếp

Theo quy định pháp luật hiện hành, các chủ thể được pháp luật giao thẩm quyền trực tiếp gửi đơn yêu cầu Tòa án nhân dân xem xét, tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình: Các cơ quan chuyên môn thuộc bộ máy quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về công tác gia đình.

  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em: Nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người chưa thành niên trong trường hợp kết hôn sớm.

  • Hội Liên hiệp Phụ nữ: Hệ thống tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp (từ trung ương đến cấp xã/phường) đều có tư cách pháp lý độc lập trong việc đại diện, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, bao gồm quyền đề nghị xử lý quan hệ hôn nhân vi phạm.

Tư cách pháp lý của Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã

Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp xã là tổ chức cơ sở nằm trong hệ thống Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Khi phát hiện các trường hợp đăng ký kết hôn vi phạm quy định (như chưa đủ tuổi kết hôn, bị cưỡng ép hay vi phạm điều kiện cấm), Hội Phụ nữ cấp xã hoàn toàn có đầy đủ thẩm quyền pháp lý để gửi đơn đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét hủy việc kết hôn trái pháp luật này.

Sự đồng ý hay chấp thuận của hai bên gia đình không làm thay đổi bản chất vi phạm pháp luật của hành vi kết hôn khi chưa đủ điều kiện.

3. Quy trình và thủ tục hủy việc kết hôn trái pháp luật

Việc xử lý quan hệ hôn nhân vi phạm được thực hiện thông qua thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án theo các bước sau:

Lập hồ sơ yêu cầu

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (bao gồm Hội Phụ nữ) chuẩn bị hồ sơ gồm:

  • Đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản sao hoặc bản chính).

  • Tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm điều kiện kết hôn (như Giấy khai sinh, Căn cước công dân chứng minh chưa đủ tuổi, hoặc các chứng cứ chứng minh vi phạm khác).

Tòa án thụ lý và giải quyết

Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền sẽ thụ lý và tiến hành xem xét:

  • Trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết mà các bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án sẽ công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm các bên đủ điều kiện.

  • Trường hợp vẫn không đủ điều kiện hoặc có yêu cầu hủy, Tòa án sẽ ra Quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Hậu quả pháp lý sau khi bị tuyên hủy

Khi Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật:

  • Quan hệ vợ chồng giữa hai bên chấm dứt và không được pháp luật thừa nhận.

  • Quyền lợi của con chung: Được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con khi ly hôn, bảo đảm tối đa quyền lợi của con.

  • Quan hệ tài sản: Tài sản chung của các bên được giải quyết theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự về sở hữu chung và các nguyên tắc chia tài sản bảo vệ quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và con.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRI ÂN LUẬT SƯ HOÀNG TAM ĐA – NGƯỜI THẦY ĐẶT NỀN MÓNG CHO NHỮNG GIÁ TRỊ VÀNG

Tri ân người dẫn đầu Trong không khí ấm cúng của buổi tiệc tất niên ngày 07/02 vừa qua, Luật Nguyễn đã dành một khoảng lặng trang trọng nhất để thực hiện nghi thức tri ân Luật sư Hoàng Tam Đa – Thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một nghi thức hành...

DỊCH VỤ LUẬT NGUYỄN
Thăm dò ý kiến

Bạn tìm thấy chúng tôi từ đâu ?

Thống kê
  • Đang truy cập1,298
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm1,294
  • Hôm nay112,742
  • Tháng hiện tại1,662,609
  • Tổng lượt truy cập27,069,937
BANNER DOC
BANNER DOC
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Zalo