Cụ thể, để được xét duyệt nhận khoản tiền khích lệ này, người tiêu dùng cần cung cấp nguồn tin đảm bảo tính trung thực, nhanh chóng và chính xác. Các thông tin này phải đi kèm bằng chứng cụ thể nhằm xác minh rõ thời điểm, vị trí xảy ra sự việc cũng như danh tính của đối tượng vi phạm. Về mức chi trả, người báo tin sẽ nhận được khoản tiền tương đương tối đa 10% tổng mức phạt hành chính áp dụng cho cơ sở vi phạm đó. Dù vậy, con số này được khống chế ở mức kịch trần là 10.000.000 đồng cho mỗi vụ việc. Các hướng dẫn chi tiết hơn về quy trình nhận thưởng, hình thức và nguồn kinh phí sẽ do Bộ Tài chính quy định cụ thể.
Song song với cơ chế khen thưởng, khung hình phạt dành cho các cơ sở kinh doanh cố tình gian lận chứng từ cũng được quy định hết sức nghiêm khắc tại Nghị định 125/2020/NĐ-CP (được điều chỉnh, bổ sung bởi Nghị định 310/2025/NĐ-CP). Tùy thuộc vào số lượng chứng từ bị bỏ lọt và tính chất giao dịch, mức phạt tiền sẽ được phân bổ thành nhiều cấp độ:
Xử phạt cảnh cáo: Áp dụng cho vi phạm đối với hàng khuyến mãi, hàng mẫu, quà biếu tặng, hàng tiêu dùng nội bộ (trừ nguyên vật liệu luân chuyển sản xuất) hoặc hàng xuất cho mượn với số lượng 01 chứng từ bị thiếu.
Phạt từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng: Nếu vi phạm đối với nhóm hàng biếu tặng, nội bộ từ 02 đến dưới 10 chứng từ; hoặc không xuất 01 chứng từ khi bán hàng hóa, dịch vụ thương mại thông thường.
Phạt từ 2.000.000 đến 10.000.000 đồng: Dành cho lỗi không xuất từ 10 đến dưới 50 chứng từ đối với hàng nội bộ, biếu tặng; hoặc lảng tránh xuất từ 02 đến dưới 10 chứng từ với giao dịch bán hàng bình thường.
Phạt từ 10.000.000 đến 30.000.000 đồng: Áp dụng khi số chứng từ hàng biếu tặng, nội bộ không được lập nằm trong khoảng 50 đến dưới 100; hoặc thiếu từ 10 đến dưới 20 chứng từ đối với hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ.
Phạt từ 30.000.000 đến 50.000.000 đồng: Đối với hành vi không lập từ 100 chứng từ hàng nội bộ, biếu tặng trở lên; hoặc không xuất từ 20 đến dưới 50 chứng từ trong kinh doanh thông thường.
Phạt kịch khung từ 60.000.000 đến 80.000.000 đồng: Đây là mức chế tài nặng nhất, được áp dụng khi cơ sở kinh doanh lờ đi việc xuất chứng từ cho khách hàng với số lượng từ 50 lần trở lên.
Hành vi trốn tránh nghĩa vụ xuất hóa đơn có đồng nghĩa với việc trốn thuế? Câu trả lời là có. Căn cứ theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025 (cũng bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2026), hành động bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ mà cố tình không phát hành hóa đơn và không kê khai doanh thu, hoặc ghi sai lệch giá trị thấp hơn thực tế, hoàn toàn bị pháp luật xếp vào nhóm hành vi trốn thuế.
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
Là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Luật Nguyễn (Luật Nguyễn Corp) và người sáng lập Cộng đồng Doanh nhân Tâm Giao (TGEC), bà không chỉ là một luật sư tài năng mà còn là một nhà lãnh đạo, một người kết nối, và một tấm gương sáng về sự cống hiến và trách nhiệm. Với triết lý sống “Trao chữ tín...