Một trong những thay đổi mang tính nền tảng là việc áp dụng Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới. Theo đó, các chương trình giáo dục được phân loại thành 9 cấp độ, từ cấp độ 0 đến cấp độ 8, dựa trên mục tiêu đào tạo, mức độ phức tạp của nội dung, yêu cầu đầu vào, kết quả học tập và khả năng chuyển tiếp giữa các trình độ.
Cách phân loại mới bao quát toàn bộ quá trình học tập, bắt đầu từ giáo dục mầm non ở cấp độ 0, tiếp đến tiểu học và xóa mù chữ ở cấp độ 1, trung học cơ sở ở cấp độ 2, trung học phổ thông và sơ cấp ở cấp độ 3. Các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ lần lượt tương ứng với cấp độ 4 đến cấp độ 8.
Đối với chương trình tích hợp nhiều cấp học hoặc trình độ, chương trình sẽ được xếp theo cấp độ cao nhất. Mỗi chương trình đồng thời được xác định bằng mã và phân loại theo hệ thống riêng.
Điểm đáng chú ý của cách tiếp cận này là tạo ra một cấu trúc chung để các cơ sở giáo dục có căn cứ xây dựng, rà soát và điều chỉnh chương trình. Về lâu dài, khung mới được kỳ vọng hỗ trợ tốt hơn việc liên thông, công nhận và chuyển tiếp kết quả học tập giữa các cấp học và trình độ đào tạo.
Song song với việc phân cấp chương trình giáo dục, Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới cũng được đưa vào áp dụng. Khung này gồm 8 bậc trình độ, từ bậc 1 đến bậc 8, phản ánh mức độ tăng dần về kiến thức, kỹ năng cũng như khả năng tự chủ và trách nhiệm của người học.
Các bậc thấp tập trung vào khả năng thực hiện những công việc đơn giản, cơ bản theo hướng dẫn. Khi lên các bậc cao hơn, yêu cầu chuyển sang khả năng xử lý công việc phức tạp, tư duy phản biện, nghiên cứu chuyên sâu và cuối cùng là sáng tạo tri thức mới.
Đáng chú ý, khung trình độ không chỉ dùng để mô tả năng lực của người học mà còn có ý nghĩa đối với các cơ sở đào tạo. Đây sẽ là căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra, đồng thời hỗ trợ việc liên thông giữa các trình độ cũng như đối sánh văn bằng, chứng chỉ trong nước và quốc tế.
Một chính sách đáng chú ý khác liên quan trực tiếp đến đội ngũ nhà giáo là cơ chế tiếp tục làm việc sau khi nghỉ hưu.
Từ ngày 01/9/2026, nhà giáo đã nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy tại cơ sở giáo dục thông qua hợp đồng toàn thời gian hoặc hình thức thỉnh giảng, nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Việc ký hợp đồng phải dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng, công khai và minh bạch, đồng thời phải phù hợp với nhu cầu nhân sự của cơ sở giáo dục và không ảnh hưởng đến việc đào tạo đội ngũ kế cận.
Người đã nghỉ hưu muốn tiếp tục giảng dạy cần đáp ứng những yêu cầu nhất định về phẩm chất nghề nghiệp, sức khỏe, trình độ đào tạo và năng lực chuyên môn. Ngoài ra, khả năng ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy cũng được đặt ra như một yêu cầu đối với vị trí phù hợp.
Quy định này tạo thêm cơ chế để các cơ sở giáo dục tiếp tục khai thác kinh nghiệm của những nhà giáo có chuyên môn và thời gian công tác lâu năm.
Đối với giáo dục mầm non, quy định mới tập trung vào việc chuẩn hóa quá trình biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình.
Tài liệu phải đáp ứng đồng thời yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm và tính thẩm mỹ, phù hợp với quyền trẻ em, giáo dục hòa nhập, bình đẳng giới cũng như đặc điểm phát triển của trẻ. Nội dung cũng phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng và tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ.
Quá trình xây dựng tài liệu được tổ chức theo một quy trình nhiều bước. Ban biên soạn có thể gồm cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, chuyên gia và nhà khoa học có chuyên môn phù hợp. Thành viên tham gia phải đáp ứng yêu cầu về trình độ và kinh nghiệm công tác.
Sau khi xây dựng, tài liệu còn phải tiếp nhận ý kiến đóng góp, hoàn thiện và thực hiện thẩm định trước khi được sử dụng.
Trong giáo dục đại học, một điểm mới đáng chú ý là việc tăng khả năng khai thác tài nguyên giáo dục mở.
Nhóm tài nguyên này có thể bao gồm giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, khóa học trực tuyến, học liệu đa phương tiện và dữ liệu phục vụ giáo dục. Tùy theo giấy phép đi kèm, người sử dụng có thể truy cập, sao chép, chia sẻ, chỉnh sửa hoặc kết hợp các tài nguyên này.
Các trường đại học có thể sử dụng tài nguyên giáo dục mở như học liệu chính thức, tài liệu tham khảo hoặc tài liệu bổ trợ trong chương trình đào tạo. Ngoài hoạt động giảng dạy, nguồn tài nguyên này còn có thể phục vụ nghiên cứu, các khóa học trực tuyến, cấp chứng chỉ và hoạt động học thuật.
Điểm quan trọng là việc khai thác tài nguyên mở vẫn phải tuân thủ điều kiện của giấy phép và quy định pháp luật liên quan. Vì vậy, “mở” không đồng nghĩa với việc người dùng có thể sử dụng tài liệu mà không cần quan tâm đến quyền tác giả.
Quy trình xây dựng chương trình giáo dục đại học cũng có nhiều yêu cầu cụ thể hơn. Một chương trình phải thể hiện rõ mục tiêu, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập, nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy, cách thức kiểm tra đánh giá và các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Đáng chú ý, việc xây dựng chương trình không chỉ được thực hiện nội bộ mà có sự tham gia của nhiều chủ thể. Thành phần biên soạn có thể bao gồm giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý và đại diện các tổ chức nghề nghiệp, đơn vị sử dụng lao động hoặc cơ quan quản lý có liên quan.
Dự thảo chương trình phải được lấy ý kiến, công khai và giải trình việc tiếp thu ý kiến. Trước khi chính thức ban hành, chương trình còn phải trải qua bước thẩm định.
Cơ chế này nhằm tăng tính minh bạch và bảo đảm chương trình đào tạo không chỉ đáp ứng yêu cầu học thuật mà còn có tính khả thi và phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.
Một nội dung khác có ý nghĩa đối với người học ở nước ngoài là cơ chế công nhận văn bằng nước ngoài tại Việt Nam.
Theo quy định mới, việc công nhận nhằm xác định trình độ thể hiện trên văn bằng theo hệ thống giáo dục của quốc gia cấp bằng và xem xét mức độ tương đương với Khung trình độ quốc gia Việt Nam khi có đủ cơ sở đối chiếu.
Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp có thể được xem xét công nhận nếu cơ sở đào tạo hoạt động hợp pháp và đáp ứng các yêu cầu về đào tạo, kiểm định hoặc công nhận theo quy định của nước cấp bằng. Quy định cũng phân biệt nhiều trường hợp khác nhau như học trực tiếp ở nước ngoài, đào tạo tại Việt Nam, liên kết đào tạo, đào tạo từ xa hoặc trực tuyến.
Về thẩm quyền, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện công nhận đối với văn bằng giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; trong khi bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông và chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông thuộc thẩm quyền của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo.
Đặc biệt, kết quả công nhận có thể được thể hiện dưới dạng giấy, điện tử hoặc văn bản số. Dữ liệu công nhận cũng được cập nhật vào cơ sở dữ liệu và thông tin trên hệ thống hoặc VNeID có thể được sử dụng để xác minh theo quy định.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Trong đội ngũ luật sư kỳ cựu của Luật Nguyễn, có những người đã gắn bó từ thuở mới chập chững vào nghề, mang theo bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và khát khao cống hiến. Luật sư Nguyễn Thị Hồng Nga là một trong số đó. Từ một cô sinh viên luật thực tập cho đến một luật sư chính thức, chị đã có hơn...