Trả lương sau nghỉ việc, tiền ăn ca có chịu thuế?

Thứ tư - 12/08/2026 23:01
Việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương sau khi người lao động đã chấm dứt hợp đồng không đồng nghĩa mọi khoản tiền nhận được đều trở thành thu nhập chịu thuế. Trường hợp tiền ăn giữa ca không vượt mức quy định vẫn cần được xem xét riêng khi xác định số thu nhập chịu thuế và số thuế TNCN phải khấu trừ.
Trả lương sau nghỉ việc, tiền ăn ca có chịu thuế?

Thời điểm nhận lương không quyết định toàn bộ khoản thu nhập chịu thuế

Một tình huống dễ gây nhầm lẫn trong thực tế là người lao động đã nghỉ việc nhưng doanh nghiệp vẫn còn phải thanh toán tiền lương của những ngày đã làm việc. Khi khoản tiền này được chi trả sau thời điểm hợp đồng lao động chấm dứt, doanh nghiệp có trách nhiệm xác định phương pháp khấu trừ thuế theo quy định dành cho trường hợp trả thu nhập cho người đã nghỉ việc.

Tuy nhiên, cần phân biệt cách khấu trừ thuế với việc xác định khoản nào thuộc thu nhập chịu thuế.

Nói cách khác, việc khoản tiền được thanh toán sau khi hợp đồng lao động kết thúc có thể ảnh hưởng đến phương thức khấu trừ, nhưng không có nghĩa mọi thành phần cấu thành khoản thanh toán đều mặc nhiên trở thành thu nhập chịu thuế.

Tiền ăn giữa ca có cơ chế thuế riêng

Theo quy định được áp dụng từ ngày 1/7/2026, tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động chỉ được tính vào thu nhập chịu thuế đối với phần vượt mức 1,2 triệu đồng/người/tháng.

Nếu doanh nghiệp chi tiền ăn giữa ca bằng tiền và khoản chi không vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng thì khoản này không được tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công.

Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp trực tiếp tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động thông qua việc tự nấu ăn, mua suất ăn hoặc cấp phiếu ăn thì khoản lợi ích này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động theo quy định.

Như vậy, bản chất của khoản tiền ăn giữa ca cần được xem xét độc lập với thời điểm doanh nghiệp thực hiện thanh toán.

Như vậy, nếu khoản tiền ăn giữa ca thấp hơn ngưỡng 1,2 triệu đồng/người/tháng thì không được đưa vào thu nhập chịu thuế.

Đã nghỉ việc, khoản lương còn được thanh toán thế nào?

Một vấn đề khác cần tách bạch là quy định về khấu trừ thuế đối với người đã chấm dứt hợp đồng lao động.

Trường hợp cá nhân cư trú đã nghỉ việc nhưng sau đó vẫn được doanh nghiệp thanh toán tiền lương hoặc các khoản thu nhập khác, pháp luật về thuế vẫn có quy định riêng về việc khấu trừ tại nguồn.

Theo quy định tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP, khi tổ chức, cá nhân chi trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao hoặc các khoản chi khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng mà số tiền trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, bên chi trả phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trước khi thanh toán.

Điều này giải thích vì sao doanh nghiệp có thể thực hiện khấu trừ 10% đối với khoản tiền trả cho người lao động sau ngày chấm dứt hợp đồng.

Tuy nhiên, không nên hiểu quy định này theo hướng 10% được tính trên tất cả số tiền doanh nghiệp chuyển cho người lao động mà không cần phân loại từng khoản thu nhập.

Cần xác định trước tổng số tiền nào thực sự là thu nhập chịu thuế. Sau đó mới áp dụng tỷ lệ khấu trừ tương ứng theo quy định.

Số tiền lương cần được phân loại từng khoản

Giả sử doanh nghiệp thanh toán cho người lao động:

  • Tiền lương theo ngày công: 15 triệu đồng;
  • Tiền ăn giữa ca: 800.000 đồng.

Tổng số tiền thực nhận trước khi khấu trừ là 15,8 triệu đồng.

Nếu khoản 800.000 đồng đáp ứng đúng điều kiện của khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa được quy định và nằm trong mức không chịu thuế, thì khoản này không phải là thu nhập chịu thuế.

Khi đó, việc doanh nghiệp xác định 15,8 triệu đồng là toàn bộ thu nhập chịu thuế chỉ vì khoản tiền được thanh toán vào ngày 3/8/2026, tức sau khi hợp đồng đã chấm dứt ngày 29/7/2026, là cách hiểu chưa phù hợp với nguyên tắc phân loại thu nhập.

Điểm cần lưu ý là quy định về khấu trừ 10% và quy định về khoản thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế đang điều chỉnh hai vấn đề khác nhau.

Một bên xác định cách thức và tỷ lệ khấu trừ khi doanh nghiệp trả tiền cho người đã nghỉ việc. Bên còn lại xác định bản chất và phạm vi thu nhập chịu thuế.

Không thể lấy quy định về khấu trừ 10% để làm căn cứ biến một khoản vốn không thuộc thu nhập chịu thuế thành thu nhập chịu thuế.

Chứng từ khấu trừ thuế cũng cần phản ánh đúng bản chất khoản thu nhập

Chứng từ khấu trừ thuế TNCN là căn cứ quan trọng để cá nhân đối chiếu số thu nhập và số thuế đã bị khấu trừ trong năm.

Vì vậy, khi doanh nghiệp lập chứng từ, việc xác định số thu nhập chịu thuế cần được thực hiện trên cơ sở từng khoản thu nhập thực tế và quy định thuế tương ứng.

Nếu tiền ăn giữa ca 800.000 đồng thuộc khoản không chịu thuế, việc cộng khoản này vào tổng thu nhập chịu thuế chỉ vì doanh nghiệp thanh toán sau thời điểm chấm dứt hợp đồng là vấn đề cần được xem xét lại.

Người lao động nên kiểm tra đồng thời bảng lương, quyết định hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, nội dung khoản tiền ăn giữa ca và chứng từ khấu trừ thuế để xác định doanh nghiệp đã phân loại khoản thu nhập đúng hay chưa.

Không nên đồng nhất “trả sau khi nghỉ” với “toàn bộ đều chịu thuế”

Từ trường hợp trên có thể rút ra một nguyên tắc quan trọng: thời điểm chi trả và bản chất khoản thu nhập là hai yếu tố cần được xem xét riêng.

Việc doanh nghiệp trả lương tháng cuối vào ngày 3/8, trong khi hợp đồng đã kết thúc ngày 29/7, có thể dẫn đến việc áp dụng quy định khấu trừ thuế đối với khoản chi trả cho người đã chấm dứt hợp đồng. Nhưng quy định này không tự động loại bỏ các khoản thu nhập được pháp luật xác định là không chịu thuế.

Với tiền ăn giữa ca, mức chi 800.000 đồng/người/tháng trong trường hợp nêu trên thấp hơn ngưỡng 1,2 triệu đồng. Do đó, nếu khoản tiền đáp ứng đúng điều kiện pháp luật quy định, khoản này về nguyên tắc không được tính vào thu nhập chịu thuế.

Ngược lại, nếu khoản tiền được doanh nghiệp gọi là “phụ cấp ăn giữa ca” nhưng thực tế không đáp ứng điều kiện để được áp dụng quy định miễn tính vào thu nhập chịu thuế, kết quả tính thuế có thể khác. Vì vậy, việc xác định chính xác bản chất khoản chi và phương thức doanh nghiệp thực hiện khoản chi là yếu tố không thể bỏ qua.

Người lao động nên làm gì nếu chứng từ ghi nhận chưa phù hợp?

Nếu nhận thấy chứng từ khấu trừ thuế thể hiện toàn bộ 15,8 triệu đồng là thu nhập chịu thuế, người lao động có thể đề nghị doanh nghiệp giải thích căn cứ tính thuế và cách phân loại khoản 800.000 đồng tiền ăn giữa ca.

Trường hợp doanh nghiệp xác định khoản tiền ăn giữa ca thuộc diện không tính vào thu nhập chịu thuế nhưng chứng từ lại thể hiện khác, người lao động nên đề nghị doanh nghiệp rà soát, điều chỉnh thông tin nếu cần thiết.

Đồng thời, người lao động cần lưu giữ các tài liệu liên quan đến khoản chi, bởi đây là cơ sở để đối chiếu khi thực hiện quyết toán thuế TNCN hoặc khi phát sinh yêu cầu giải trình về số thu nhập và số thuế đã khấu trừ.

Tóm lại, việc thanh toán tiền lương sau khi hợp đồng lao động chấm dứt có thể làm phát sinh cơ chế khấu trừ 10% đối với khoản chi trả đủ điều kiện, nhưng không đồng nghĩa toàn bộ số tiền nhận được đều mặc nhiên là thu nhập chịu thuế. Với khoản tiền ăn giữa ca 800.000 đồng trong trường hợp giả sử nêu trên, nếu đáp ứng đúng điều kiện theo quy định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 thì khoản này không được tính vào thu nhập chịu thuế.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Luật sư Nguyễn Thị Thuý Hằng - Chuyên gia pháp lý từ miền đất Quảng

Luật sư Nguyễn Thị Thúy Hằng: Dấu ấn pháp lý từ miền đất Quảng   🌟 Hành trình vươn lên từ cội nguồn miền Trung Chúng ta thường nghĩ về Luật sư như những người nghiêm nghị, gắn liền với các điều luật khô khan. Nhưng đối với Luật sư Nguyễn Thị Thúy Hằng, cô là hiện thân của sự...

DỊCH VỤ LUẬT NGUYỄN
Thăm dò ý kiến

Bạn gặp trở ngại gì trong quá trình vận hành doanh nghiệp?

Thống kê
  • Đang truy cập1,350
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm1,349
  • Hôm nay82,807
  • Tháng hiện tại2,018,922
  • Tổng lượt truy cập27,925,087
BANNER DOC
BANNER DOC
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Zalo