Doanh nghiệp bị phạt thế nào nếu không tổ chức khám sức khỏe?

Thứ năm - 06/08/2026 23:24
Từ ngày 10/9/2026, doanh nghiệp không thực hiện việc khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động có thể bị xử phạt đáng kể. Bài viết dưới đây làm rõ tần suất khám, mức phạt, trách nhiệm chi trả và những quy định liên quan đến tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
Doanh nghiệp bị phạt thế nào nếu không tổ chức khám sức khỏe?

Doanh nghiệp có bắt buộc khám sức khỏe cho người lao động?

Khám sức khỏe định kỳ là một trong những nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động mà người sử dụng lao động phải thực hiện trong quá trình sử dụng nhân sự.

Theo khoản 1 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động ít nhất một lần mỗi năm.

Tần suất này được rút ngắn xuống ít nhất 6 tháng một lần đối với một số nhóm đặc thù, gồm:

  • Người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
  • Người lao động khuyết tật;
  • Người lao động chưa thành niên;
  • Người lao động cao tuổi.

Ngoài khám sức khỏe thông thường, doanh nghiệp còn phải thực hiện các yêu cầu chuyên môn phù hợp với từng đối tượng. Lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản; người làm việc trong môi trường có yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám để phát hiện bệnh nghề nghiệp.

Toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động khám theo quy định do người sử dụng lao động chi trả.

Không khám sức khỏe từ 10/9/2026 bị phạt bao nhiêu?

Đây là vấn đề doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi Nghị định 283/2026/NĐ-CP được áp dụng.

Theo khoản 2 Điều 33 Nghị định này, hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động có thể bị phạt từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng cho mỗi người lao động vi phạm, với tổng mức phạt đối với cá nhân không vượt quá 75 triệu đồng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp là tổ chức nên mức phạt được áp dụng theo nguyên tắc cao hơn mức dành cho cá nhân. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân trong cùng hành vi vi phạm. Theo đó, doanh nghiệp có thể bị phạt: 2 triệu đồng đến 6 triệu đồng/người lao động vi phạm, tổng mức phạt tối đa 150 triệu đồng.

Như vậy, số lượng người lao động không được khám sức khỏe có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tổng số tiền phạt mà doanh nghiệp phải chịu.

Doanh nghiệp còn phải thực hiện biện pháp khắc phục nào?

Trách nhiệm của doanh nghiệp không kết thúc ở việc nộp phạt. Theo quy định được nêu, bên cạnh hình thức xử phạt tiền, doanh nghiệp còn có thể bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Trước hết, doanh nghiệp phải tổ chức khám sức khỏe hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho những người lao động thuộc diện phải khám.Trường hợp người lao động đã chủ động đi khám trước đó, doanh nghiệp phải thanh toán chi phí khám sức khỏe hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo quy định.

Điều này cho thấy việc không tổ chức khám đúng thời hạn có thể làm phát sinh đồng thời hai nhóm nghĩa vụ: nghĩa vụ chịu xử phạt và nghĩa vụ bảo đảm quyền lợi khám sức khỏe cho người lao động.

Doanh nghiệp cần xác định đúng đối tượng và tần suất khám

Không phải tất cả người lao động đều áp dụng một tần suất khám giống nhau. Đối với người lao động thông thường, doanh nghiệp phải tổ chức khám ít nhất một lần trong năm. Trong khi đó, những nhóm lao động đặc thù phải được khám với tần suất tối thiểu 6 tháng một lần. Do đó, khi xây dựng kế hoạch nhân sự và an toàn lao động, doanh nghiệp nên lập danh sách người lao động theo từng nhóm công việc, độ tuổi và đặc điểm lao động để xác định chính xác nghĩa vụ khám. Đối với những vị trí thường xuyên tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm hoặc có nguy cơ phát sinh bệnh nghề nghiệp, doanh nghiệp cũng cần xem xét yêu cầu khám chuyên môn tương ứng thay vì chỉ thực hiện khám sức khỏe thông thường.

Tiền lương đóng BHXH được xác định ra sao?

Bên cạnh quy định về khám sức khỏe, người sử dụng lao động cũng cần lưu ý cách xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024. Căn cứ đóng BHXH không được xác định giống nhau cho mọi nhóm lao động mà phụ thuộc vào chế độ tiền lương mà người lao động đang áp dụng.

Người hưởng lương theo chế độ do Nhà nước quy định

Đối với nhóm này, tiền lương làm căn cứ đóng được xác định dựa trên tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc hoặc cấp bậc quân hàm.

Một số khoản phụ cấp và hệ số chênh lệch bảo lưu lương nếu thuộc trường hợp luật định cũng được tính vào căn cứ đóng.

Người hưởng lương do doanh nghiệp quyết định

Đối với người lao động hưởng lương theo chế độ do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương đóng BHXH bao gồm:

  • Mức lương theo công việc hoặc chức danh;
  • Các khoản phụ cấp lương;
  • Các khoản bổ sung khác được trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng cơ cấu tiền lương rõ ràng để xác định đúng những khoản phải tính vào tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.

Mức đóng BHXH có giới hạn như thế nào?

Đối với một số nhóm người lao động thuộc diện được lựa chọn mức tiền lương làm căn cứ đóng, pháp luật quy định giới hạn tương ứng.

Mức thấp nhất được xác định bằng mức tham chiếu, trong khi mức cao nhất không vượt quá 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

Sau ít nhất 12 tháng đóng theo mức đã lựa chọn, người lao động có thể lựa chọn lại mức tiền lương làm căn cứ đóng theo quy định.

Đối với người tham gia BHXH tự nguyện, thu nhập làm căn cứ đóng có mức tối thiểu bằng chuẩn nghèo của khu vực nông thôn và mức tối đa bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

Doanh nghiệp cần làm gì để tránh vi phạm?

Để hạn chế rủi ro khi quy định mới được áp dụng, doanh nghiệp nên chủ động rà soát hồ sơ sức khỏe của toàn bộ người lao động. Trước hết, cần lập kế hoạch khám sức khỏe định kỳ theo từng nhóm lao động và theo dõi thời điểm khám của từng người. Đối với nhóm lao động đặc thù, cần bảo đảm tần suất khám 6 tháng một lần. Doanh nghiệp cũng cần lựa chọn cơ sở khám đáp ứng yêu cầu, lưu giữ hồ sơ liên quan và thực hiện đầy đủ việc thanh toán chi phí. Song song với đó, bộ phận nhân sự và kế toán nên rà soát cơ cấu tiền lương để xác định chính xác các khoản thuộc tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.

Từ ngày 10/9/2026, việc không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp có thể khiến doanh nghiệp chịu mức phạt từ 2 triệu đồng đến 6 triệu đồng cho mỗi người lao động vi phạm, với tổng mức phạt tối đa 150 triệu đồng theo quy định được nêu. Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp còn phải thực hiện việc khám sức khỏe cho người lao động hoặc thanh toán chi phí nếu người lao động đã tự thực hiện việc khám. Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động kiểm tra lịch khám, phân loại người lao động theo từng nhóm đối tượng và hoàn thiện hồ sơ theo dõi trước thời điểm quy định mới được áp dụng. Đây không chỉ là biện pháp hạn chế rủi ro xử phạt mà còn góp phần bảo đảm quyền lợi và sức khỏe của người lao động.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRI ÂN LUẬT SƯ HOÀNG TAM ĐA – NGƯỜI THẦY ĐẶT NỀN MÓNG CHO NHỮNG GIÁ TRỊ VÀNG

Tri ân người dẫn đầu Trong không khí ấm cúng của buổi tiệc tất niên ngày 07/02 vừa qua, Luật Nguyễn đã dành một khoảng lặng trang trọng nhất để thực hiện nghi thức tri ân Luật sư Hoàng Tam Đa – Thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một nghi thức hành...

DỊCH VỤ LUẬT NGUYỄN
Thăm dò ý kiến

Bạn tìm thấy chúng tôi từ đâu ?

BANNER DOC
BANNER DOC
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Zalo