Trong phiên thảo luận tại hội trường sáng 11/8 về dự án Luật Phát triển đô thị, cơ chế dành cho Trung tâm Tài chính Quốc tế (TTTCQT) trở thành một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm.
Điểm đáng chú ý không nằm ở việc Việt Nam có thêm một khu vực tập trung các ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức tài chính quốc tế, mà ở khả năng biến trung tâm này thành một mắt xích thực sự trong quá trình huy động nguồn lực cho nền kinh tế.
Đại biểu Trịnh Ngọc Phương (đoàn TP.HCM) cho rằng hiệu quả của TTTCQT không nên chỉ được nhìn nhận thông qua số lượng tổ chức tài chính quốc tế đặt hoạt động tại đây. Quan trọng hơn là trung tâm phải tạo được khả năng kết nối giữa thị trường tài chính quốc tế với nhu cầu vốn của Việt Nam.
Theo hướng tiếp cận này, TTTCQT cần đảm nhiệm đồng thời nhiều chức năng: thu hút nguồn vốn, cung cấp dịch vụ tài chính, hỗ trợ cấu trúc các giao dịch vốn và tạo điều kiện để nguồn lực quốc tế được chuyển hóa thành vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và các dự án phát triển.
Nếu chỉ hình thành một không gian hoạt động riêng biệt cho các tổ chức tài chính quốc tế, nhưng thiếu cơ chế để doanh nghiệp trong nước tiếp cận các dịch vụ và nguồn vốn này, trung tâm sẽ khó phát huy vai trò như kỳ vọng.
Nói cách khác, giá trị của TTTCQT không nằm ở quy mô của “khu vực tài chính” mà nằm ở khả năng tạo ra dòng chảy vốn hai chiều giữa Việt Nam và thị trường quốc tế.
Một trong những vấn đề được các đại biểu đặt ra là khả năng sử dụng dịch vụ của các thành viên TTTCQT đối với các chủ thể trong nước.
Dự thảo luật đã có bước mở khi cho phép thành viên của trung tâm cung cấp một số dịch vụ cho tổ chức, cá nhân trong nước nhằm phục vụ hoạt động giao dịch và thu hút vốn quốc tế. Tuy nhiên, theo đại biểu Trịnh Ngọc Phương, việc mở cửa về mặt quy định mới chỉ tạo tiền đề, còn hiệu quả thực tế phụ thuộc vào cách thức vận hành.
Một doanh nghiệp Việt Nam có dự án hạ tầng, công nghệ, năng lượng hoặc đổi mới sáng tạo cần nguồn vốn lớn phải có khả năng tiếp cận hệ thống dịch vụ tài chính quốc tế ngay trong nước. Từ tư vấn tài chính, xây dựng phương án huy động vốn, kết nối nhà đầu tư cho tới phát hành các công cụ tài chính, tất cả cần được thiết kế thành một chuỗi dịch vụ có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn toàn cầu.
Đây cũng là vấn đề được đại biểu Lã Thanh Tân (đoàn TP. Hải Phòng) phân tích.
Theo đại biểu, mục tiêu của TTTCQT là thu hút và luân chuyển dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế, do đó không thể chỉ tập trung vào việc đưa các định chế tài chính nước ngoài vào trung tâm. Cần đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức và các chủ thể có nhu cầu vốn trong nước tham gia vào hệ sinh thái này.
Một điểm nghẽn được chỉ ra là cách xác định thành viên của TTTCQT hiện nay. Khi tư cách thành viên được xác lập dựa trên đăng ký thay vì giới hạn theo địa bàn, các chủ thể ở bên ngoài trung tâm, trong đó có chính quyền thành phố và các tổ chức, cá nhân trong nước không phải thành viên, có thể bị xem là thuộc “phần còn lại của Việt Nam”.
Cách tiếp cận này có thể làm hạn chế khả năng sử dụng dịch vụ của thành viên TTTCQT đối với các chủ thể trong nước.
Đại biểu Lã Thanh Tân vì vậy đề nghị nghiên cứu quy định theo hướng Chính phủ, chính quyền thành phố và các tổ chức trong nước đáp ứng điều kiện phát hành được quyền sử dụng dịch vụ tài chính, dịch vụ hỗ trợ của thành viên TTTCQT phù hợp với phạm vi giấy phép. Những dịch vụ này có thể phục vụ hoạt động phát hành, niêm yết và giao dịch chứng khoán nhằm huy động nguồn vốn quốc tế.
Nếu được thiết kế hợp lý, đây sẽ là một cơ chế quan trọng giúp chuyển TTTCQT từ mô hình “thu hút tổ chức” sang mô hình “tạo giao dịch và dẫn vốn”.
Việc TTTCQT được triển khai tại cả TP.HCM và Đà Nẵng cũng đặt ra yêu cầu xác định rõ mức độ thống nhất và phạm vi khác biệt trong cơ chế vận hành.
Theo đại biểu Trịnh Ngọc Phương, Nghị quyết 222 của Quốc hội đã xác định TTTCQT Việt Nam được phát triển tại hai địa điểm nhưng vận hành như một thực thể pháp lý thống nhất. Vì vậy, khi luật hóa cơ chế này, cần phân định rạch ròi những nguyên tắc áp dụng chung cho toàn bộ TTTCQT với các chính sách đặc thù dành riêng cho từng địa phương.
Đây là bài toán không đơn giản.
Nếu cơ chế giữa hai địa phương được thiết kế hoàn toàn giống nhau, có thể không tận dụng được lợi thế và điều kiện phát triển riêng của từng nơi. Ngược lại, nếu phân quyền quá rộng mà thiếu nguyên tắc chung, tính thống nhất của TTTCQT Việt Nam có thể bị ảnh hưởng.
Đặc biệt, với TP.HCM - địa phương có quy mô kinh tế lớn, thị trường tài chính phát triển và nhu cầu huy động vốn cao - việc duy trì đủ không gian chính sách để thành phố thực hiện vai trò đầu tàu là vấn đề được đặt ra.
Cùng lúc đó, một số đại biểu lại cho rằng chưa nên luật hóa ngay nội dung TTTCQT trong dự thảo Luật Phát triển đô thị.
Đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) cho rằng Việt Nam đã có Nghị quyết 222 áp dụng cho cả TP.HCM và Đà Nẵng. Nếu dự thảo luật chỉ đưa ra quy định cho TP.HCM mà không bao quát Đà Nẵng thì sẽ khó bảo đảm tính đồng bộ. Theo quan điểm này, có thể chờ quá trình thực hiện Nghị quyết 222 được tổng kết, từ đó xây dựng một đạo luật riêng điều chỉnh toàn diện về TTTCQT.
Đại biểu Nguyễn Phương Thủy (đoàn TP. Hà Nội) cũng nghiêng về phương án chưa đưa ngay nội dung này vào dự thảo. Theo đại biểu, TTTCQT là mô hình có tính đặc thù cao, liên quan đồng thời đến tài chính, đầu tư, chứng khoán, ngân hàng, quản trị đô thị và nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, việc xây dựng một khung pháp lý riêng có thể tạo điều kiện đánh giá kỹ hơn tác động chính sách và bảo đảm tính ổn định lâu dài.
Những quan điểm khác nhau cho thấy vấn đề hiện nay không chỉ là “có luật hóa hay không”, mà còn là luật hóa ở thời điểm nào và bằng một cấu trúc pháp lý như thế nào.
Bên cạnh mục tiêu thu hút vốn quốc tế, một vấn đề khác được các đại biểu đặc biệt lưu ý là giới hạn an toàn tài chính khi trao thêm công cụ huy động vốn cho TP.HCM.
Theo đại biểu Trịnh Ngọc Phương, việc cho phép thành phố sử dụng các công cụ như trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại TTTCQT để huy động nguồn lực cho những dự án trọng điểm là cần thiết. Đây có thể trở thành một kênh bổ sung vốn quan trọng trong bối cảnh nhu cầu đầu tư cho hạ tầng và các dự án quy mô lớn ngày càng tăng.
Tuy nhiên, quyền huy động vốn không thể được thiết kế tách rời nghĩa vụ tài chính.
Luật cần xác định rõ ai là chủ thể phát hành, nguồn vốn được sử dụng vào đâu, hạn mức huy động như thế nào, nghĩa vụ trả nợ thuộc về chủ thể nào và cơ chế giám sát ra sao. Đặc biệt, mọi cơ chế huy động vốn mới vẫn phải đặt trong khuôn khổ an toàn ngân sách và giới hạn nợ của địa phương.
Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng quyền tự chủ tài chính cho đô thị.
Một thành phố được trao thêm quyền huy động vốn đồng nghĩa với việc phải chịu trách nhiệm lớn hơn đối với hiệu quả sử dụng nguồn vốn và khả năng hoàn trả. Nếu không xác lập được cơ chế trách nhiệm rõ ràng, việc mở rộng công cụ tài chính có thể làm gia tăng rủi ro đối với ngân sách địa phương.
Ngược lại, nếu trách nhiệm, giới hạn và cơ chế giám sát được quy định minh bạch, cơ quan quản lý có cơ sở để trao thêm quyền chủ động cho đô thị.
Một TTTCQT có quy mô giao dịch càng lớn thì mức độ liên thông với thị trường tài chính quốc tế càng cao. Điều này đồng nghĩa với việc các rủi ro phát sinh cũng có thể phức tạp hơn.
Vì vậy, theo tinh thần các ý kiến tại phiên thảo luận, cơ chế đặc thù không nên được hiểu đơn thuần là nới lỏng quy định. Mục tiêu quan trọng hơn là thiết kế một hệ thống quy tắc đủ linh hoạt để thu hút dòng vốn nhưng vẫn kiểm soát được các rủi ro đối với tài chính công và nền kinh tế.
Quyền lực và trách nhiệm cần được đặt trong cùng một thiết kế.
Khi thành phố được trao quyền huy động nguồn lực lớn hơn, cơ chế công khai thông tin, giám sát dòng tiền, quản lý nghĩa vụ nợ, đánh giá hiệu quả dự án và trách nhiệm giải trình cũng phải được nâng lên tương ứng.
Đây không chỉ là yêu cầu về quản lý ngân sách mà còn là điều kiện để xây dựng niềm tin đối với các nhà đầu tư quốc tế. Một trung tâm tài chính muốn thu hút nguồn vốn dài hạn phải chứng minh được rằng hệ thống pháp lý có khả năng dự báo, cơ chế quản trị minh bạch và rủi ro được kiểm soát bằng những nguyên tắc rõ ràng.
Từ các ý kiến thảo luận, có thể nhìn nhận việc hoàn thiện cơ chế TTTCQT theo bốn nhóm yêu cầu lớn.
Thứ nhất, phải tạo đủ năng lực huy động vốn quốc tế. Trung tâm cần được trao những công cụ pháp lý phù hợp để thu hút, tổ chức và phân bổ dòng vốn thay vì chỉ đóng vai trò địa điểm tập trung các tổ chức tài chính.
Thứ hai, phải kết nối được vốn quốc tế với nhu cầu vốn trong nước. Doanh nghiệp và các dự án có chất lượng cần có khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính quốc tế thông qua hệ sinh thái của trung tâm. Đây mới là yếu tố quyết định khả năng tạo tác động lan tỏa đến nền kinh tế.
Thứ ba, phải giải quyết hài hòa giữa tính thống nhất và đặc thù địa phương. TTTCQT Việt Nam cần một khung vận hành chung, nhưng vẫn phải có không gian chính sách phù hợp với điều kiện phát triển của TP.HCM và Đà Nẵng.
Thứ tư, phải xây dựng cơ chế kiểm soát tương xứng với quyền hạn được trao. Mọi công cụ huy động vốn, đặc biệt những công cụ có liên quan đến ngân sách và nghĩa vụ nợ địa phương, cần đi kèm giới hạn rõ ràng, trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát hiệu quả.
Tranh luận về TTTCQT cho thấy đây không đơn thuần là câu chuyện xây dựng thêm một thiết chế tài chính tại hai đô thị lớn.
Về bản chất, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu hình thành một kênh kết nối mới giữa nền kinh tế trong nước và thị trường vốn quốc tế. Nếu cơ chế được thiết kế tốt, doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận sâu hơn với các nguồn vốn quốc tế, trong khi nhà đầu tư nước ngoài có thêm một đầu mối để tìm kiếm cơ hội tại Việt Nam.
Ngược lại, nếu trung tâm chỉ tập trung vào việc thu hút các định chế tài chính mà chưa tạo được khả năng dẫn vốn vào nền kinh tế, hiệu quả của mô hình sẽ bị hạn chế.
Do đó, trọng tâm của quá trình hoàn thiện chính sách không nên chỉ là tạo ra những ưu đãi đủ hấp dẫn để thu hút tổ chức tài chính quốc tế. Quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ sinh thái trong đó vốn, dịch vụ tài chính, doanh nghiệp, dự án và nhà đầu tư có thể kết nối với nhau trong một khuôn khổ pháp lý minh bạch.
Đây cũng là cơ sở để TTTCQT có thể đóng góp vào mục tiêu huy động nguồn lực xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận vốn dài hạn và nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế.
Trong quá trình luật hóa cơ chế này, bài toán khó nhất vì thế không phải là lựa chọn giữa “mở” hay “siết”, mà là tìm được điểm cân bằng giữa tự do tài chính, khả năng dẫn vốn và an toàn hệ thống. Một cơ chế đủ mở để thu hút dòng vốn toàn cầu nhưng đủ chặt để kiểm soát rủi ro sẽ quyết định TTTCQT có trở thành một động lực tăng trưởng mới hay chỉ dừng ở một mô hình tài chính mang tính thử nghiệm.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Ban lãnh đạo Luật Nguyễn 2026: Bản hoà tấu của những người đồng hành và khát vọng vươn tầm quốc tế Trong không gian sang trọng và ấm cúng của buổi Tiệc Tất niên ngày 07/02 vừa qua, bên cạnh những giọt nước mắt tri ân người thầy, tập thể Luật Nguyễn đã cùng nhau chứng kiến một khoảnh khắc vô cùng...
Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Đòn bẩy mới nâng tầm chất lượng nhân lực doanh nghiệp
Con đã tốt nghiệp chưa có việc làm: Có được giảm trừ gia cảnh không?
Đãi ngộ xứng tầm cho người có uy tín từ 20/09/2026
Nghị định 306/2026/NĐ-CP: Nâng tầm vị thế và tổ chức Bộ Ngoại giao
Nghị định 304: Đột phá chính sách huy động nhân lực cho CAND
Luật Thuế GTGT 1/1/2026: Bước Ngoặt Cho Hộ Kinh Doanh Và Nông Nghiệp
Gold price gap between SJC and global market narrows by VND 6 million
Khởi tố Đoàn Văn Sáng vì tội giết người ở Lạng Sơn
Bảng Tỷ Lệ Thuế Suất Theo Thông Tư 40/2021/TT-BTC
Quỹ Phòng chống thiên tai đối với Doanh nghiệp.Bắt buộc hay Tự nguyện?