Bước sang giai đoạn số hóa công tác tài chính, việc xác thực chứng từ điện tử đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý. Căn cứ theo quy định tại Nghị định 254/2026/NĐ-CP, khi doanh nghiệp tiến hành lập và xuất hóa đơn điện tử bán hàng, chữ ký số đóng vai trò quyết định tính pháp lý và toàn vẹn của dữ liệu.
Cụ thể, đối với pháp nhân là doanh nghiệp hoặc tổ chức, chữ ký số hiển thị trên hóa đơn bắt buộc phải là chữ ký số chính thức của chính doanh nghiệp, tổ chức đó. Trường hợp người bán là cá nhân kinh doanh hoặc người được ủy quyền hợp pháp thì sử dụng chữ ký số cá nhân tương ứng. Riêng các nhà cung cấp nước ngoài không hiện diện thương mại tại Việt Nam sẽ áp dụng chữ ký điện tử theo các chuẩn mực giao dịch điện tử quốc tế.
Bên cạnh yếu tố xác thực từ chữ ký số của người bán, một hóa đơn điện tử hợp lệ từ ngày 01/7/2026 cần phải hội tụ đầy đủ các nội dung cốt lõi theo Khoản 1 Điều 10 Nghị định 254/2026/NĐ-CP để đảm bảo tính minh bạch trước cơ quan thuế:
Thông tin định danh chứng từ: Tên hóa đơn, ký hiệu hóa đơn, ký hiệu mẫu số hóa đơn và số thứ tự hóa đơn.
Thông tin chủ thể: Tên, địa chỉ và mã số thuế (hoặc mã số định danh cá nhân) của cả người bán lẫn người mua.
Chi tiết giao dịch kinh tế: Tên hàng hóa dịch vụ, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, thành tiền chưa thuế, mức thuế suất GTGT, tổng tiền thuế và tổng giá trị thanh toán cuối cùng.
Dấu mốc thời gian và mã xác thực: Thời điểm lập hóa đơn, thời điểm ký số điện tử, cùng mã số từ cơ quan thuế (đối với hóa đơn có mã).
Các yếu tố phụ trợ khác: Phí, lệ phí ngân sách, chiết khấu thương mại, khuyến mại (nếu có) và chữ ký số của người mua (chỉ bắt buộc khi hai bên có thỏa thuận riêng).
Không phải mọi chủ thể kinh doanh đều sử dụng chung một loại mẫu hóa đơn. Pháp luật hiện hành phân định rõ ràng phạm vi áp dụng của hóa đơn bán hàng dựa trên phương pháp tính thuế và đặc thù địa bàn hoạt động:
Hóa đơn bán hàng được áp dụng chủ yếu cho các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh thực hiện khai, tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Các hoạt động nghiệp vụ bao gồm:
Kinh doanh bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong thị trường nội địa.
Thực hiện các hoạt động vận tải quốc tế.
Xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ vào khu phi thuế quan hoặc các trường hợp được công nhận tương đương xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trực tiếp ra thị trường nước ngoài.
Các tổ chức và cá nhân hoạt động trong khu phi thuế quan khi thực hiện giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ vào nội địa, giao dịch nội bộ giữa các chủ thể trong khu phi thuế quan, hoặc xuất khẩu ra nước ngoài phải sử dụng hóa đơn bán hàng với nội dung ghi chú rõ ràng: "Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan".
Đối với các doanh nghiệp chế xuất, nếu có hoạt động kinh doanh ngoài phạm vi chế xuất thông thường và chọn phương pháp tính thuế trực tiếp thì cũng phải sử dụng loại hóa đơn này.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Trong đội ngũ luật sư kỳ cựu của Luật Nguyễn, có những người đã gắn bó từ thuở mới chập chững vào nghề, mang theo bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và khát khao cống hiến. Luật sư Nguyễn Thị Hồng Nga là một trong số đó. Từ một cô sinh viên luật thực tập cho đến một luật sư chính thức, chị đã có hơn...
Nhận thừa kế ô tô: Nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân ra sao?
Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Đòn bẩy mới nâng tầm chất lượng nhân lực doanh nghiệp
Con đã tốt nghiệp chưa có việc làm: Có được giảm trừ gia cảnh không?
Đãi ngộ xứng tầm cho người có uy tín từ 20/09/2026
Nghị định 306/2026/NĐ-CP: Nâng tầm vị thế và tổ chức Bộ Ngoại giao
Luật Thuế GTGT 1/1/2026: Bước Ngoặt Cho Hộ Kinh Doanh Và Nông Nghiệp
Gold price gap between SJC and global market narrows by VND 6 million
Khởi tố Đoàn Văn Sáng vì tội giết người ở Lạng Sơn
Bảng Tỷ Lệ Thuế Suất Theo Thông Tư 40/2021/TT-BTC
Quỹ Phòng chống thiên tai đối với Doanh nghiệp.Bắt buộc hay Tự nguyện?